Chào mừng quý vị đến với Website của Lớp Toán Tin 22b Trường CĐSP Nam Định.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
SKKN2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương Vũ Thiện (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:43' 05-01-2011
Dung lượng: 42.5 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lương Vũ Thiện (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:43' 05-01-2011
Dung lượng: 42.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Báo cáo
kết quả 4 năm đổi mới
giáo dục trung học cơ sở - môn ngữ văn
Báo cáo gồm hai phần:
- Phần I: Đánh giá kết quả đạt được sau 4 năm đổi mới giáo dục Trung học cơ sở.
Phần II: Những phương hướng, đề xuất trong thời gian tới.
Phần thứ nhất:
Đánh giá kết quả đạt được sau 4 năm đổi mới
giáo dục Trung học cơ sở môn ngữ văn:
1.Những kết quả đạt được:
Xuất phát từ mục tiêu về môn học: môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS: góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho học sinh hoặc ra đời hoặc tiếp tục học lên bậc học cao hơn. Đó là ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, kính trọng gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân – thiện – mĩ, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp. Chính vì thế học sinh phải nắm được:
Về kiến thức:
- Nắm được những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của các loại đơn vị tiêu biểu của từng bộ phận cấu thành Tiếng Việt. Nắm được những tri thức về ngữ cảnh, về ý định, về mục đích, về hiệu quả của giao tiếp, nắm được các quy tắc chi phối việc sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp trong nhà trường và ngoài xã hội.
- Nắm được những tri thức về các kiểu văn bản thường dùng (tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh, điều hành).
- Nắm được một số tác phẩm văn học tiêu biểu của Việt Nam và thế giới đặc trưng cho các thể loại quen thuộc, đặc biệt là những thể loại thường gặp trong Văn học Việt Nam.
Về kĩ năng:
- Các kĩ năng nghe, đọc; bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tư tưởng tình cảm và một số giá trị nghệ thuật của các văn bản được học (bao gồm cả tác phẩm văn học và văn bản nhật dụng) từ đó hình thành ý thức và kinh nghiệm ứng xử thích hợp đối với những vấn đề được nêu ra trong các văn bản đó. Quan trọng đối với kĩ năng nghe, đọc là nghe- hiểu, đọc- hiểu và cảm thụ các giá trị nghệ thuật của các văn bản.
- Có kĩ năng nói và viết đúng chính tả, từ ngữ, cú pháp. Biết cách sử dụng những thao tác cần thiết để tạo lập các kiểu văn bản được học. Biết sử dụng các kiểu văn bản được phục vụ cho việc học tập ở trường, đời sống gia đình và xã hội.
- Có năng lực vận dụng các thao tác tư duy để so sá
kết quả 4 năm đổi mới
giáo dục trung học cơ sở - môn ngữ văn
Báo cáo gồm hai phần:
- Phần I: Đánh giá kết quả đạt được sau 4 năm đổi mới giáo dục Trung học cơ sở.
Phần II: Những phương hướng, đề xuất trong thời gian tới.
Phần thứ nhất:
Đánh giá kết quả đạt được sau 4 năm đổi mới
giáo dục Trung học cơ sở môn ngữ văn:
1.Những kết quả đạt được:
Xuất phát từ mục tiêu về môn học: môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS: góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho học sinh hoặc ra đời hoặc tiếp tục học lên bậc học cao hơn. Đó là ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, kính trọng gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân – thiện – mĩ, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp. Chính vì thế học sinh phải nắm được:
Về kiến thức:
- Nắm được những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của các loại đơn vị tiêu biểu của từng bộ phận cấu thành Tiếng Việt. Nắm được những tri thức về ngữ cảnh, về ý định, về mục đích, về hiệu quả của giao tiếp, nắm được các quy tắc chi phối việc sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp trong nhà trường và ngoài xã hội.
- Nắm được những tri thức về các kiểu văn bản thường dùng (tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh, điều hành).
- Nắm được một số tác phẩm văn học tiêu biểu của Việt Nam và thế giới đặc trưng cho các thể loại quen thuộc, đặc biệt là những thể loại thường gặp trong Văn học Việt Nam.
Về kĩ năng:
- Các kĩ năng nghe, đọc; bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tư tưởng tình cảm và một số giá trị nghệ thuật của các văn bản được học (bao gồm cả tác phẩm văn học và văn bản nhật dụng) từ đó hình thành ý thức và kinh nghiệm ứng xử thích hợp đối với những vấn đề được nêu ra trong các văn bản đó. Quan trọng đối với kĩ năng nghe, đọc là nghe- hiểu, đọc- hiểu và cảm thụ các giá trị nghệ thuật của các văn bản.
- Có kĩ năng nói và viết đúng chính tả, từ ngữ, cú pháp. Biết cách sử dụng những thao tác cần thiết để tạo lập các kiểu văn bản được học. Biết sử dụng các kiểu văn bản được phục vụ cho việc học tập ở trường, đời sống gia đình và xã hội.
- Có năng lực vận dụng các thao tác tư duy để so sá
 






Các ý kiến mới nhất